BÍ QUYẾT TĂNG CƯỜNG SỨC KHỎE | KỸ THUẬT THỞ KHÍ CÔNG
Sau khi tập hít thở theo bài “Bí quyết tăng cường sức khỏe bằng kỹ thuật hô hấp” một thời gian, chúng ta đã có khả năng điều khiển hơi thở êm, nhẹ, sâu; đồng thời, tối thiểu phải thở được 3 thì (hít, ngưng, xả). Khi đó, chúng ta có thể chuyển sang luyện thở khí công.
1. Tại sao cần thở khí công?
Khi ta tập các cơ bắp như tập tay, tập chân, tập cổ, tập ngực,… ta thường dùng các dụng cụ như tạ, dây kéo, parafix, parallel, hoặc hít đất, nhẩy xổm, bơi lội v.v. Nhưng nếu ta muốn tập các bộ phận bên trong như Tim, Gan, Tì, Phế, Thận (ngũ tạng) hoặc Dạ Dầy, Mật, Bàng Quan, Tam Tiêu, Ruột Non, Ruột Già (lục phủ), nhất là các Kinh Mạch và Thần Kinh, thì chúng ta tập ra sao?
Người xưa dạy ta tập bằng cách Thở Khí Công: khi ta nạp không khí vào phần Hạ Phế (phổi dưới) – nói là thở Bụng, nhưng thực tế, không bao giờ không khí có thể vào thẳng bụng được. Không khí vào phần Phổi dưới, nó sẽ nở ra, đẩy Cơ Hoành và Cơ Bụng xuống, làm cho Lục phủ, Ngũ tạng bị ép nhẹ xuống. Khi ta xả khí, cơ Hoành và cơ Bụng lại nâng Lục phủ, Ngũ tạng lên. Như vậy, toàn bộ các cơ quan trong người ta cứ liên tục bị nhồi lên, ép xuống một cách nhẹ nhàng, nhu nhuyễn, như vậy các bộ phận bên trong của ta đã được “thoa bóp bằng hơi một cách vô cùng êm ái”. Nói cách khác, Lục Phủ, Ngũ Tạng của ta đã được tập luyện bằng những đệm hơi rất vi tế. Một khi các bộ phận trong người đã được tập có phương pháp như thế thì tất nhiên chúng sẽ trở nên linh hoạt, không bị trệ và hoạt động tốt hơn, do đó Kinh Mạch của ta sẽ vận hành đều hòa hơn. Mặt khác, vì phải tập trung tinh thần, không suy nghĩ vẩn vơ, điều này sẽ giúp cho Thần Kinh của chúng ta vững vàng, Tâm không bị giao động, âm dương được quân bình.
Tập như thế, tức là tập bên trong – công phu tập luyện bên trong- tức là tập Nội Công vậy.
Người xưa dạy ta tập bằng cách Thở Khí Công: khi ta nạp không khí vào phần Hạ Phế (phổi dưới) – nói là thở Bụng, nhưng thực tế, không bao giờ không khí có thể vào thẳng bụng được. Không khí vào phần Phổi dưới, nó sẽ nở ra, đẩy Cơ Hoành và Cơ Bụng xuống, làm cho Lục phủ, Ngũ tạng bị ép nhẹ xuống. Khi ta xả khí, cơ Hoành và cơ Bụng lại nâng Lục phủ, Ngũ tạng lên. Như vậy, toàn bộ các cơ quan trong người ta cứ liên tục bị nhồi lên, ép xuống một cách nhẹ nhàng, nhu nhuyễn, như vậy các bộ phận bên trong của ta đã được “thoa bóp bằng hơi một cách vô cùng êm ái”. Nói cách khác, Lục Phủ, Ngũ Tạng của ta đã được tập luyện bằng những đệm hơi rất vi tế. Một khi các bộ phận trong người đã được tập có phương pháp như thế thì tất nhiên chúng sẽ trở nên linh hoạt, không bị trệ và hoạt động tốt hơn, do đó Kinh Mạch của ta sẽ vận hành đều hòa hơn. Mặt khác, vì phải tập trung tinh thần, không suy nghĩ vẩn vơ, điều này sẽ giúp cho Thần Kinh của chúng ta vững vàng, Tâm không bị giao động, âm dương được quân bình.
Tập như thế, tức là tập bên trong – công phu tập luyện bên trong- tức là tập Nội Công vậy.
2. Kỹ thuật thở khí công như sau:
a) Tư Thế: Trong khi luyện thở, có thể Đi – Ðứng – Nằm – Ngồi đều được cả, nhưng bao giờ cũng phải cho đầu, cổ và xương sống thật thẳng thì Khí mới có thể lưu thông được.
Nằm: trên một mặt bằng và cứng (không nệm, không gối đầu), hai tay để úp, xuôi theo thân mình. Hai chân duỗi thẳng, gót chân chạm nhau, mũi bàn chân mg ngả ra hai bên. Tư thế nằm áp dụng cho những người sức khỏe quá yếu, hoặc những người thiếu máu, không thể ngồi lâu được.
Ngồi: ngồi xếp bằng theo lối bán già hay kiết già tùy ý, cũng có thể ngồi trên ghế, không dựa lưng, hai chân để xuôi xuống sàn một cách tự nhiên, ngay ngắn, hai tay buông xuôi xuống hoặc để trên hai bắp vế. Ðiều quan trọng là phải giữ cho đầu, cổ xương sống xuống đến hậu môn ở trên một đường thẳng. Ngồi là tư thế đúng nhất và tốt nhất cho việc Luyện Khí´.
Ðứng: Hai chân đứng song song, dang rộng khoảng 25cm, cho vững, hai tay buông xuôi theo thân người, hai đầu gối hơi chùng xuống một chút, nặng ở hai gót chân, buông lỏng hai vai. Tư thế đứng dùng để tập luyện nhiều động tác quan trọng.
Đi: bước đi bình thường, sải bước vừa phải để thân hình luôn giữ thẳng, không nghiêng lệch. Khi bước gót chân đặt xuống trước, rồi đến toàn bộ bàn chân, cuối cùng mũi bàn chân phải được gồng cứng để đẩy thân người đi, mười đầu ngón chân bám xuống đất như kiểu đi đường trơn vậy (nếu chân thả lỏng tự nhiên thì hiệu quả thấp hơn)
b) Luyện thở
– Dù ở tư thế nào, thân, vai, bụng đều buông lỏng, thoải mái. Trước khi thở phải gạt bỏ hết mọi ý nghĩ, tập trung tinh thần vào hơi thở. Trước khi Luyện khí nên biết thư giãn. Không biết thư giãn thì kết quả Luyện khí sẽ bị giới hạn rất nhiều:
+ Thư giãn Cơ Bắp: buông lỏng tất cả dường gân, thớ thịt: từ đầu ngón tay cho tới tứ chi, vai, bụng và toàn thể thân người, coi như toàn thân mềm nhũn ra, không còn một trương lực nào cả.
+ Thư giãn Tâm Thần: để bộ não từ từ tan biến đi, không còn một ý thức nào nữa, không nghe, không thấy, không biết gì nữa, cứ để tâm chìm vào hư vô. Mới đầu khó thực hiện, nhưng sau sẽ quen dần. Ðộng tác thư giãn sẽ giúp ta thấy nhẹ nhàng, khoan thai, dễ chịu sau những giờ làm việc căng thẳng. Thư giãn thoải mái xong mới bắt đầu tập luyện.
– Hít vào: tưởng tượng khí đi vào huyệt thừa tương (hõm dưới môi dưới), xuống huyệt Thiên Đột (hõm cổ bên trên xương ức), huyệt Đản Trung (chính giữa ngực và thẳng hàng với 2 núm vú), Thần Khuyết (lỗ rốn), Đan Điền (dưới rốn 1,5 thốn), Quan Nguyên (dưới rốn 3 thốn), xuống Hội Âm (trung điểm của chim và lỗ đít).
– Ngưng thở: giữ khí ở Hội Âm chừng 5 – 10 giây
– Thở ra: tưởng tượng khí đi từ Hội Âm vào huyệt Trường Cường (dưới xương cụt) rồi đi dọc cột sống từ xương cụt lên đỉnh đầu qua các huyệt Mệnh Môn (thắt lưng), Linh Đài (đối xứng với huyệt Đản Trung), Đại Chùy (đốt sống cổ số 7), Phong Phủ (dưới hậu chẩm), Bách Hội (giữ đỉnh đầu), Ấn Đường (giữ 2 chân mày), xuống Nhân Trung (chính giữ phần lõm của môi trên).
Cứ như vậy, ta tiến hành hít vào thở ra càng nhiều càng tốt, có thể thở ở mọi nơi, mọi lúc. Tuy nhiên, nếu tập theo buổi thì thời gian tối thiểu thở khí công phải bằng tuổi của người đó.
– Ghi chú: Nếu chịu khó tập thở Nội Công liên tục đều đặn, sau 3 tháng sẽ có kết quả cụ thể: người khỏe mạnh, năng động, vui tươi, giảm lượng đường trong máu, giảm cholesterol, giảm huyết áp (nếu có), ăn uống, tiêu hóa tốt, sinh lý mạnh và có thể chữa khỏi những chứng bệnh thông thường.
Nằm: trên một mặt bằng và cứng (không nệm, không gối đầu), hai tay để úp, xuôi theo thân mình. Hai chân duỗi thẳng, gót chân chạm nhau, mũi bàn chân mg ngả ra hai bên. Tư thế nằm áp dụng cho những người sức khỏe quá yếu, hoặc những người thiếu máu, không thể ngồi lâu được.
Ngồi: ngồi xếp bằng theo lối bán già hay kiết già tùy ý, cũng có thể ngồi trên ghế, không dựa lưng, hai chân để xuôi xuống sàn một cách tự nhiên, ngay ngắn, hai tay buông xuôi xuống hoặc để trên hai bắp vế. Ðiều quan trọng là phải giữ cho đầu, cổ xương sống xuống đến hậu môn ở trên một đường thẳng. Ngồi là tư thế đúng nhất và tốt nhất cho việc Luyện Khí´.
Ðứng: Hai chân đứng song song, dang rộng khoảng 25cm, cho vững, hai tay buông xuôi theo thân người, hai đầu gối hơi chùng xuống một chút, nặng ở hai gót chân, buông lỏng hai vai. Tư thế đứng dùng để tập luyện nhiều động tác quan trọng.
Đi: bước đi bình thường, sải bước vừa phải để thân hình luôn giữ thẳng, không nghiêng lệch. Khi bước gót chân đặt xuống trước, rồi đến toàn bộ bàn chân, cuối cùng mũi bàn chân phải được gồng cứng để đẩy thân người đi, mười đầu ngón chân bám xuống đất như kiểu đi đường trơn vậy (nếu chân thả lỏng tự nhiên thì hiệu quả thấp hơn)
b) Luyện thở
– Dù ở tư thế nào, thân, vai, bụng đều buông lỏng, thoải mái. Trước khi thở phải gạt bỏ hết mọi ý nghĩ, tập trung tinh thần vào hơi thở. Trước khi Luyện khí nên biết thư giãn. Không biết thư giãn thì kết quả Luyện khí sẽ bị giới hạn rất nhiều:
+ Thư giãn Cơ Bắp: buông lỏng tất cả dường gân, thớ thịt: từ đầu ngón tay cho tới tứ chi, vai, bụng và toàn thể thân người, coi như toàn thân mềm nhũn ra, không còn một trương lực nào cả.
+ Thư giãn Tâm Thần: để bộ não từ từ tan biến đi, không còn một ý thức nào nữa, không nghe, không thấy, không biết gì nữa, cứ để tâm chìm vào hư vô. Mới đầu khó thực hiện, nhưng sau sẽ quen dần. Ðộng tác thư giãn sẽ giúp ta thấy nhẹ nhàng, khoan thai, dễ chịu sau những giờ làm việc căng thẳng. Thư giãn thoải mái xong mới bắt đầu tập luyện.
– Hít vào: tưởng tượng khí đi vào huyệt thừa tương (hõm dưới môi dưới), xuống huyệt Thiên Đột (hõm cổ bên trên xương ức), huyệt Đản Trung (chính giữa ngực và thẳng hàng với 2 núm vú), Thần Khuyết (lỗ rốn), Đan Điền (dưới rốn 1,5 thốn), Quan Nguyên (dưới rốn 3 thốn), xuống Hội Âm (trung điểm của chim và lỗ đít).
– Ngưng thở: giữ khí ở Hội Âm chừng 5 – 10 giây
– Thở ra: tưởng tượng khí đi từ Hội Âm vào huyệt Trường Cường (dưới xương cụt) rồi đi dọc cột sống từ xương cụt lên đỉnh đầu qua các huyệt Mệnh Môn (thắt lưng), Linh Đài (đối xứng với huyệt Đản Trung), Đại Chùy (đốt sống cổ số 7), Phong Phủ (dưới hậu chẩm), Bách Hội (giữ đỉnh đầu), Ấn Đường (giữ 2 chân mày), xuống Nhân Trung (chính giữ phần lõm của môi trên).
Cứ như vậy, ta tiến hành hít vào thở ra càng nhiều càng tốt, có thể thở ở mọi nơi, mọi lúc. Tuy nhiên, nếu tập theo buổi thì thời gian tối thiểu thở khí công phải bằng tuổi của người đó.
– Ghi chú: Nếu chịu khó tập thở Nội Công liên tục đều đặn, sau 3 tháng sẽ có kết quả cụ thể: người khỏe mạnh, năng động, vui tươi, giảm lượng đường trong máu, giảm cholesterol, giảm huyết áp (nếu có), ăn uống, tiêu hóa tốt, sinh lý mạnh và có thể chữa khỏi những chứng bệnh thông thường.

Tư thế ngồi kiết già khi tập khí công
Nhận xét
Đăng nhận xét