ĐIỂM HUYỆT CHỮA BỆNH | Tiết 1: BÌNH NHỤ PHÁP
Trong điểm huyệt chữa bệnh, bình nhụ pháp là cách dùng tay làm động tác ấn, xoa và day ngang. Tay ấn nặng và dừng ở trong cơ (bắp thịt) kết hợp tay không ngừng xoa nhẹ ở da.
Động tác
Đầu ngón tay giữa đặt vào huyệt vị người bệnh, kế đó đem đầu ngón tay cái để ở dưới gầm, phía trong của ngón tay giữa, chỗ khớp đốt thứ nhất, lại lấy ngón trỏ và ngón bốn chụm lại áp ở phía ngoài đốt thứ nhất ngón giữa, để làm thế bổ trợ cho ngón giữa tiện cho thao tác. Sau đó dùng đầu ngón giữa đã để trên huyệt vị day hình vòng tròn, sau vài lần day thì ấn vào huyệt. Bề mặt của ngón tay nhụ (ngón giữa) phải lõm và dưới da huyệt vị. Đây là động dạng nhụ ( kiểu như nắn day ) sẽ không thể rời khỏi da. Bình nhụ một vòng là một lần, tiêu chuẩn chung là 50 – 100 lần. Tăng giảm số lần phải tuỳ bệnh tình mà quyết định. Diện tích vùng nhụ là do vùng huyệt quyết định, mặt khác cần căn cứ tình hình bệnh. Do đó ở thao tác nhụ, cần phải xem xét toàn diện nhưng chủ yếu là vòng ngón tay nhụ ước chừng trên dưới 1 phân, lấy đó làm phạm vi vòng tròn vận nhụ và kết hợp với diện tích vùng huyệt linh hoạt vận dụng thích đáng. Tuỳ thao tác xoay nhụ nhưng do liên tục kích thích vào huyệt vị sẽ dẫn đến cảm giác buốt tê hoặc buốt khó chịu; từ đó sinh ra biến hoá tổ chức huyệt vị, dẫn đến công năng điều tiết sinh lý của tổ chức trong cơ thể con người. Đây là một thủ pháp trọng yếu phi thường trong toàn bộ phép điểm huyệt. Vì vậy, nó được ứng dụng trên lâm sàng rất rộng rãi. Thủ pháp nặng hay nhẹ cần phân biệt ở thể chất gầy hay béo, bệnh tình lâu hay mới mà quyết định. Người béo mới bị bệnh thì thủ pháp nặng, người gầy yếu bệnh lâu dài thì thủ pháp nhẹ. Nhưng ở người béo khẻo cũng có khi dùng thủ pháp nhẹ, người gầy yếu bệnh lâu cũng có khi dùng thủ pháp nặng. Hiện tượng này là phương thuốc biến hoá căn cứ vào tình hình đặc thù của bệnh tật mà linh hoạt quyết định sử dụng. Ngoài ra thủ pháp này không những trực tiếp điều tiết âm dương, mà còn có thể căn cứ vào 12 kinh âm dương tuần hành, cùng với vấn đề khởi chỉ của mạch nhâm tuần hành ở bụng, mạch đốc tuần hành ở lưng, tiến hành thủ pháp bổ tả, tăng mạnh thêm tác dụng điều tiết âm dương.
Tiêu chuẩn tả hữu bình nhụ
Việc hướng về bên trái bình nhụ, hoặc là hướng về bên phải bình nhụ là lấy vị trí của người bệnh mà quyết định trái phải. Khi huyệt vị ở bên trái hoặc ở bên phải của người bệnh, không kể là huyệt ở dương kinh hay ở âm kinh, xoay nhụ từ phải qua trái hướng lên là hướng tả bình nhụ. Ngược lại, từ trái qua phải hướng lên mà xoay nhụ là hướng hữu bình nhụ.
Tả hữu bình nhụ và bổ tả
Bản thân bình nhụ pháp vốn có đủ tác dụng điều tiết âm dương. Phương pháp bổ tả của hướng tả bình nhụ và hướng hữu bình nhụ có thể tăng thêm mạch điều tiết bất túc. Đó là căn cứ vào bắt đầu và kết thúc ở 14 kinh tuần hành trên cơ thể ngừơi, và vấn đề thăng giáng của tả dương, hữu âm, kết hợp cụ thể vào thủ pháp thao tác, tiến hành bổ tả nghênh tuỳ.
Thủ tam dương kinh đi từ tay lên đầu: Khi nhụ huyệt vị ở bên trái, hướng tả bình nhụ tứ là nhụ từ phải qua trái, hướng lên theo chiều đường kinh mà nhụ xoay là tả. Khi nhụ huyệt vị ở cạnh phải hướng bình nhụ tức là nhụ từ trái qua phải, hướng lên theo đường kinh mà nhụ xoay là bổ, hướng xuống đón ngược chiều đường kinh mà nhụ xoay là tả (Nếu dùng cả hai tay mà nhụ cho người bệnh đều lấy hướng lên mà bổ, hướng xuóng là tả).
Thủ tam âm kinh đi từ ngực ra tay bằng: Khi nhụ huyệt vị ở cạnh trái, hướng hữu bình nhụ tức là nhụ từ trái qua phải, hướng lên đón ngược chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là tả, hướng xuống theo chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là bổ. Khi nhụ huyệt vị ở cạnh phải, hướng tả bình nhụ tức là nhụ từ phải qua trái, hướng lên đón ngược chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là tả, hướng xuống theo đường kinh đi mà nhụ xoay là bổ. ( Hai tay nhắm vào nhau mà nhụ, đều là lấy hướng lên làm tả, hướng xuống là bổ).
Túc tam dương kinh đi từ đầu tới chân: Khi nhụ huyệt vị ở cạnh trái hướng tả bình nhụ – tức là nhụ ở phải qua trái hướng lên theo chiều đường kinh mà nhụ xoay là bổ, hướng xuống đón ngược chiều đường kinh là nhụ xoay là tả. Khi nhụ huyệt vị ở cạnh phải, hướng hữu bình nhụ – tức là nhụ từ trái qua phải, hướng lên theo đường kinh đi mà nhụ xoay là bổ, hướng xuống đóng ngược chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là tả. (Hai tay nhắm vào nhau mà nhụ, đều là lấy hướng lên làm bổ, hướng xuống là tả.
Ghi chú: Bất luận là hướng tả bình nhụ hoặc hướng hữu bình nhụ đều có tác dụng điều tiết âm dương .
Thủ tam dương kinh đi từ tay lên đầu: Khi nhụ huyệt vị ở bên trái, hướng tả bình nhụ tứ là nhụ từ phải qua trái, hướng lên theo chiều đường kinh mà nhụ xoay là tả. Khi nhụ huyệt vị ở cạnh phải hướng bình nhụ tức là nhụ từ trái qua phải, hướng lên theo đường kinh mà nhụ xoay là bổ, hướng xuống đón ngược chiều đường kinh mà nhụ xoay là tả (Nếu dùng cả hai tay mà nhụ cho người bệnh đều lấy hướng lên mà bổ, hướng xuóng là tả).
Thủ tam âm kinh đi từ ngực ra tay bằng: Khi nhụ huyệt vị ở cạnh trái, hướng hữu bình nhụ tức là nhụ từ trái qua phải, hướng lên đón ngược chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là tả, hướng xuống theo chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là bổ. Khi nhụ huyệt vị ở cạnh phải, hướng tả bình nhụ tức là nhụ từ phải qua trái, hướng lên đón ngược chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là tả, hướng xuống theo đường kinh đi mà nhụ xoay là bổ. ( Hai tay nhắm vào nhau mà nhụ, đều là lấy hướng lên làm tả, hướng xuống là bổ).
Túc tam dương kinh đi từ đầu tới chân: Khi nhụ huyệt vị ở cạnh trái hướng tả bình nhụ – tức là nhụ ở phải qua trái hướng lên theo chiều đường kinh mà nhụ xoay là bổ, hướng xuống đón ngược chiều đường kinh là nhụ xoay là tả. Khi nhụ huyệt vị ở cạnh phải, hướng hữu bình nhụ – tức là nhụ từ trái qua phải, hướng lên theo đường kinh đi mà nhụ xoay là bổ, hướng xuống đóng ngược chiều đường kinh đi mà nhụ xoay là tả. (Hai tay nhắm vào nhau mà nhụ, đều là lấy hướng lên làm bổ, hướng xuống là tả.
Ghi chú: Bất luận là hướng tả bình nhụ hoặc hướng hữu bình nhụ đều có tác dụng điều tiết âm dương .
Ứng dụng của bình nhụ pháp
Bình nhụ pháp ứng dụng cực rỗng rãi trên lâm sàng, bệnh tật nói chung đều có thể chọn dùng. Khi phối hợp thủ pháp, thường sử dụng kết hợp với áp phóng pháp, và các thủ pháp khác đều có thể phối hợp. Khi thao tác, một ngón tay giữa cũng có thể lấy để nhụ, hai ngón tay giữa cũng có thể lấy để nhụ. Một hướng tả bình nhụ cũng được, hướng hữu bình nhụ cũng được, để cho thuận tay người thày là được. (xem tiếp tiết 2)./.
Nhận xét
Đăng nhận xét